ĐIỀU TRỊ DỰ PHÒNG LAO BẰNG INH CHO BỆNH NHÂN HIV/AIDS

07/04/2020
Năm 2015, Việt Nam cam kết với Liên hợp quốc về việc thực hiện mục tiêu 90-90-90 vào năm 2020 và kết thúc AIDS vào năm 2030, trong đó mục tiêu 90 thứ ba là tỷ lệ người nhiễm HIV được điều trị ARV đạt ức chế tải lượng HIV dưới 1000 bản sao/ml.

ĐIỀU TRỊ DỰ PHÒNG LAO BẰNG INH CHO BỆNH NHÂN HIV/AIDS

Năm 2015, Việt Nam cam kết với Liên hợp quốc về việc thực hiện mục tiêu 90-90-90 vào năm 2020 và kết thúc AIDS vào năm 2030, trong đó mục tiêu 90 thứ ba là tỷ lệ người nhiễm HIV được điều trị ARV đạt ức chế tải lượng HIV dưới 1000 bản sao/ml.

Xét nghiệm tải lượng HIV là yếu tố dự báo tốt nhất về hiệu quả điều trị HIV/AIDS, xét nghiệm tải lượng HIV được khuyến cáo thực hiện thường quy để theo dõi kết quả điều trị ARV. Kết quả xét nghiệm tải lượng HIV>1000 bản sao/ml là tiêu chuẩn xác định thất bại về mặt vi rút học và căn cứ chuyển đổi phác đồ điều trị cho bệnh nhân. Các chỉ số về xét nghiệm tải lượng HIV gồm tỷ lệ bao phủ xét nghiệm tải lượng HIV và tỷ lệ bệnh nhân đạt ức chế tải lượng HIV dưới 1000 bản sao/ml được Bộ Y tế ban hành trong văn bản hướng dẫn về đo lường chỉ số chất lượng điều trị HIV/AIDS (HIVQUAL)năm 2016 và chỉ số cảnh báo sớm HIV kháng thuốc năm 2017.

Do chi phí xét nghiệm tải lượng HIV cao nên số lượng bệnh nhân được xét nghiệm tải lượng HIV thường quy chưa nhiều. Để đưa ra những bằng chứng khoa học về các yếu tố liên quan đến tải lượng HIV, đặc biệt trong nhóm bệnh nhân HIV/AIDS mới điều trị ARV, nghiên cứu được tiến hành tại một số tỉnh, thành phố năm 2016-2018 với mục tiêu phân tích xác suất ức chế tải lượng HIV dưới 1000 bản sao/ml theo thời gian và tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến xác suất ức chế tải lượng HIV.

Vừa qua, nhóm tác giả nghiên cứu Đoàn Thị Thùy Linh cùng cộng sự Cục Phòng chống HIV/AIDS, trường Đại học Y Hà Nội, bệnh viện Phổi Trung Ương thực hiện báo cáo nghiên cứu “Xác suất ức chế tải lượng HIV ở bệnh nhân HIV/AIDS mới điều trị ARV tại một số tỉnh, thành phố giai đoạn 2016-2018”. Theo tác giả nghiên cứu, nghiên cứu được thực hiện với tiêu chuẩn lựa chọn bệnh án ngoại trú của bệnh nhân HIV/AIDS trên 14 tuổi mới bắt đầu điều trị ARV bao gồm cả những trường hợp mới điều trị bị tử vong, bỏ trị, chuyển đi của các năm 2016, 2017 và 2018. Địa điểm nghiên cứu tại 6 bệnh viện/ trung tâm Y tế có cùng đặc điểm dịch vụ điều trị HIV/AIDS thuộc 3 tỉnh, thành phố gồm: Cần Thơ (Trung tâm Y tế Thốt Nốt, Ô Môn), An Giang (Bệnh viện đa khoa Tịnh Biên, Trung tâm Y tế Long Xuyên), Sơn La (Bệnh viện đa khoa tỉnh, Bệnh viên đa khoa Mai Sơn). Tổng số mẫu nghiên cứu của 3 năm tương ứng là 1.306; 1.381; 1.446 bệnh nhân. Trong mẫu ngẫu nhiên của 3 năm, số bệnh nhân mới bắt đầu điều trị ARV lần lượt là 500,484 và 267 bệnh nhân. Tổng số bệnh nhân ARV mới của 3 năm theo dõi là 1.251 bệnh nhân. Nghiên cứu đã tập trung phân tích xác suất ức chế tải lượng HIV dưới 1000 bản sao/ml của nhóm bệnh nhân mới bắt đầu điều trị ARV tại 3 năm theo dõi.

Tác giả nghiên cứu báo cáo, kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ bệnh nhân mới điều trị ARV được làm xét nghiệm tải lượng HIV thấp (34,2%), chưa đạt yêu cầu của quốc gia về xét nghiệm tải lượng HIV. Một số nguyên nhân như xét nghiệm tải lượng HIV được Bộ Y tế khuyến cáo thực hiện trong theo dõi điều trị bệnh nhân HIV/AIDS giai đoạn năm 2016-2017, và hướng dẫn thực hiện thường quy cho tất cả các bệnh nhân HIV/AIDS năm 2018. Tuy nhiên chi phí xét nghiệm tốn kém và giai đoạn 2016-2018, xét nghiệm tải lượng HIV còn phụ thuộc vào viện trợ của dự án, phụ thuộc vào quy trình mua sắm, đấu thầu sinh phẩm và ký hợp đồng mua dịch vụ xét nghiệm của các dự án với các viện, bệnh viện và thường chậm so với kế hoạch. Do đó số bệnh nhân HIV/AIDS được xét nghiệm tải lượng HIV còn thấp. Một nguyên nhân khác là do 2016-2018 là giai đoạn chương trình điều trị HIV/AIDS có sự thay đổi về mô hình tổ chức cung cấp dịch vụ để đáp ứng đủ tiêu chuẩn khám, chữa bệnh HIV/AIDS qua bảo hiểm y tế. Điều này đã ảnh hưởng đến việc cung cấp dịch vụ theo chuẩn quốc gia của cơ sở điều trị cho bệnh nhân HIV/AIDS.

Kết quả ức chế tải lượng HIV dưới 1000 bản sao/ml của nghiên cứu này (94.4%) cho thấy bệnh nhân mới điều trị ARV có đáp ứng tốt với điều trị và tuân thủ điều trị tốt. Tỷ lệ bệnh nhân mới điều trị ARV đạt ức chế tải lượng HIV đạt mức cao >90% ở cả 3 năm theo dõi và tăng dần qua các năm, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05. Kết quả này tương đồng với báo cáo năm 2018 của Việt Nam là 91% bệnh nhân điều trị HIV/AIDS đạt ngưỡng ức chế tải lượng HIV dưới 1000 bản sao/ml, tương đồng với kết quả nghiên cứu về ức chế tải lượng HIV và HIV kháng thuốc của bệnh nhân ARV người lớn tại Việt Nam năm 2014 là 95.1% bệnh nhân điều trị ARV ít nhất 36 tháng đạt ức chế tải lượng HIV dưới 1000 bản sao/ml.

Mặc dù kết quả nghiên cứu đạt được mục tiêu 90 thứ ba về ức chế tải lượng HIV dưới 1000 bản sao/ml (94.4%) nhưng tỷ lệ bao phủ xét nghiệm tải lượng HIV còn thấp và chưa đạt yêu cầu về độ bao phủ. Vì vậy, để đạt được mục tiêu 90-90-90 vào năm 2020, các cơ sở cần triển khai mở rộng xét nghiệm tải lượng HIV nhiều hơn nữa, tận dụng tối đa và đa dạng hóa các nguồn thực hiện như nguồn dự án, nguồn tự chi trả, nguồn chương trình mục tiêu quốc gia, nguồn ngân sách nhà nước hoặc ngân sách địa phương. Đối với bệnh nhân HIV/AIDS mới điều trị ARV, điều trị dự phòng INH là một trong những khuyến cáo cần thực hiện và được quy định trong Hướng dẫn quản lý và điều trị HIV do Bộ Y tế ban hành. Trong nghiên cứu, những bệnh nhân được điều trị dự phòng Lao bằng INH có khả năng ức chế tải lượng HIV cao gấp 1.79 lần những bệnh nhân không được điều trị INH (95% CI: 1.22-2.62) sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0.05. Điều trị INH ở nhóm bệnh nhân mới điều trị HIV đóng vai trò quan trọng và là yếu tố góp phần giúp bệnh nhân sớm đạt được ức chế tải lượng HIV dưới 1000 bản sao/ml. Vì vậy, các cơ sở điều trị HIV/AIDS cần tăng cường sàng lọc Lao và điều trị dự phòng bằng INH để bệnh nhân sớm đạt ức chế tải lượng HIV. Việc theo dõi kết quả điều trị ARV thông qua theo dõi các chỉ số đánh giá chất lượng điều trị HIV/AIDS bao gồm các chỉ số về tỷ lệ bao phủ xét nghiệm tải lượng HIV và chỉ số về ức chế tải lượng HIV dưới 1000 bản sao/ml là rất hữu ích. Căn cứ vào kết quả này, các cơ sở có thể tự đánh giá kết quả cung cấp dịch vụ điều trị HIV/AIDS , khả năng đạt được mục tiêu 90 thứ ba theo cam kết của Chính Phủ. Đồng thời cũng là căn cứ để các cơ sở tiếp tục phấn đấu hoặc cải thiện chất lượng dịch vụ, góp phần giảm HIV kháng thuốc và giảm tỷ lệ bệnh nhân tử vong.

Kết luận nghiên cứu, tác giả nhấn mạnh, tỷ lệ xét nghiệm tải lượng HIV cho bệnh nhân mới điều trị ARV trong nghiên cứu thấp (34.2%). Trong số những bệnh nhân có kết quả xét nghiệm tải lượng HIV dưới 1000 bản sao/ml cao (94.4%), tăng dần qua các năm. Cao nhất là năm 2018 đạt 95.6%. Phân tích đa biến các yếu tố liên quan đến xác suất ức chế tải lượng HIV ở nhóm bệnh nhân có điều trị dự phòng Lao bằng INH cao gấp 1.79 lần nhóm không dự phòng INH.

Anh Huy

707/VDD-GSDD

V/v Thông báo thông điệp truyền thông cho vùng bị thiên tai lũ lụt

22034/QĐ-BCĐQG

V/v ban hành "Hướng dẫn phòng, chống và đánh giá nguy cơ lây nhiễm dịch COVID-19 tại khu chung cư"

2203/QĐ-BCĐQG

V/v ban hành Hướng dẫn phòng, chống và đánh giá nguy cơ lây nhiễm dịch COVID-19 tại hộ gia đình

84/2015/QH13

Luật An toàn vệ sinh lao động

24/2020/NĐ-CP

Quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia

13045/UBND-KGVX

V/v Cài đặt và sử dụng ứng dụng "An toàn COVID-19"

12727/UBND-KGVX

V/v triển khai Công điện số 1852/CĐ-BCĐ ngày 30/11/2020 của Ban chỉ đạo Quốc gia phòng chống dịch Covid-19

2935/QĐ-IPN

CÔNG NHẬN PHÒNG XÉT NGHIỆM ĐƯỢC PHÉP KHẲNG ĐỊNH CÁC TRƯỜNG HỢP DƯƠNG TÍNH VỚI SARS-CoV-2

7511/UBND-YT

V/v triển khai Công điện 1300/CĐ-TTg ngày 24/9/2020 của Thủ tướng chính phủ

06/CĐ-CTUBND

Về việc tăng cường triển khai các công tác phòng, chống dịch bệnh Covid-19 trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa trong tình hình mới

5053/QĐ-BYT

V/v Ban hành "Sổ tay Hướng dẫn thực hành truy vết người tiếp xúc với người có xét nghiệm SARS-CoV-2 dương tính"

21/CT-BYT

V/v Tăng cường các biện pháp phòng chống dịch Covid-19

35/2019/TT-BYT

Quy định phạm vi hoạt động chuyên môn đối với người hành nghề khám, chữa bệnh

1519/BYT-MT

Hướng dẫn đeo khẩu trang phòng bệnh Covid-19 cho người dân và cộng đồng

1441/BYT-MT

Hướng dẫn thực hiện Quyết định số 1246/QĐ-BYT của Bộ Y tế

4278/SYT-TTra

V/v triển khai thực hiện Nghị định số 117/2020/NĐ-CP ngày 28/9/2020 của Chính phủ

4131/SYT-NVY

V/v Triển khai hoạt dộng phòng chống dịch bệnh Covid-19 trong trạng thái bình thường mới

3088/SYT-NVY

V/v thực hiện Quyết định số 3088/QĐ-BYT ngày 16/7/2020 của Bộ Y tế

2899/SYT-NVD

V/v đình chỉ lưu hành thuốc Bivantox không đạt tiêu chuẩn chất lượng

2022/SYT-NVY

V/v thực hiện Quyết định số 2011/QĐ-BYT ngày 19/5/2020 của Bộ Y tế

113/QĐ-KSBT

V/v Ban hành quy chế tiếp công dân và giải quyết khiếu nại tố cáo

14/QĐ-KSBT

Ban hành quy chế làm việc của Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Khánh Hòa

133/QĐ-KSBT

V/v Ban hành Quy định tiêu chuẩn, đánh giá, xếp loại A, B, C hàng tháng cho công chức, viên chức, người lao động của Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Khánh Hòa

195/QĐ-KSBT

V/v ban hành Quy chế quản lý và sử dụng tài sản công của Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Khánh Hòa

307/QĐ-KSBT

V/v công khai dự toán 9 tháng đầu năm 2020 của Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Khánh Hòa

310/BTTTT-ƯDCNTT

Công văn số 310/BTTTT-ƯDCNTT ngày 10/02/2012 của Bộ Thông tin và Truyền thông về việc hướng dẫn áp dụng bộ tiêu chí đánh giá cổng thông tin điện tử của cơ quan nhà nước

Tổng đài tư vấn các dịch vụ
Số ĐIỆN THOẠI
Thống kê
  • Đang truy cập11
  • Hôm nay251
  • Tháng hiện tại10016
  • Năm hiện tại10016
  • Tổng lượt truy cập56909
  • Xem tiếp >>
Chung sống an toàn với đại dịch COVID-19
An toàn vệ sinh thực phẩm
Liên kết website